Tương Lai Trong Hồi Tưởng
Tựa đề bài viết nầy dựa theo một quyển sách của một nhà văn Nhật bản, Tanaka, ấn bản tiếng Anh. Tôi thấy quyển sách trên trong Phân khoa Kiến trúc của Đại học Washington, St Louis, Missouri trong chuyến viếng thăm thành phố nầy. Quyển sách đề tựa Nostalgic Future. Tuy chỉ đọc sơ qua lời tựa nhưng tôi đã nhìn thấy viễn kiến của tác giả là dụng tâm nhìn lại quá khứ để vẽ ra một tương lai áp dụng trong ngành kiến trúc.
Do đó, cũng có thể nói đề tựa Việt cũng có thể là “Nhớ về quá khứ để chuẩn bị cho tương lai”, hoặc “Nhìn quá khứ, Thấy tương lai”. Điều nầy rõ ràng áp dụng cho từng quốc gia, để từ đó nhận diện ra nền văn minh, văn hóa của mỗi dân tộc qua chiều dài lịch sử của mỗi nơi.
Trong gần 3 tháng qua, tôi đã từng chu du qua nhiều tiểu bang, California, Nevada, Arizona, New Mexico, Texas, Arkansas và Missouri, một chặng đường dài hơn 7.000 dậm, để từ đó chiêm nghiệm ra một vài suy nghĩ về con người, dân tộc, và nhứt là nhìn về… chính tự thân. Mỗi nơi để lại nơi tôi nhiều dấu ấn về thời gian, văn minh của từng dân tộc đã từng hiện hữu trên những vùng nầy, cũng như phong cảnh hết sức đặc thù của một đất nước đa dạng như Hoa Kỳ.
Tại bảo tàng viện Getty, Santa Monica, CA, tôi thấy được sức mạnh của Hoa Kỳ qua sự phục vụ cộng đồng hay “trả lại” cho quốc gia những gì người dân đã thừa hưởng được từ đất nước sinh ra mình hay cưu mang mình. Đó là lòng từ thiện và sự cống hiến trở lại. Nhiều nhà tỷ phú đã đóng góp và để lại một kho tàng vô giá qua hàng chuỗi bảo tàng viện về con người, về văn minh và lịch sử. Hệ thống chuyên chở lên đỉnh đồi bằng xe điện kéo, chỗ parking xe, lệ phí vào các bảo tàng viện, … Tất cả đều miễn phí cho người thăm viếng.
Có đi đây đi đó mới thấy thiên nhiên ưu đãi cho đất nước tạm dung nầy (tuy là tạm dung nhưng phần đông chúng ta, (cảm nghĩ chủ quan cho người Việt) đã sống trong đó như… một người khách trọ vô tình!). Đến Albuquerque, New Mexico, chúng ta mới thấy tuyệt vời với ánh “rán hồng hoàng hôn” phản chiếu lên bầu trời xanh lơ và tỏa rộng về những mesa (phần bằng phẳng của dãy núi đối diện bao bọc toàn thành phố. Chúng ta sẽ thấy ánh hồng chiếu rọi cả vòng cung thật lớn bao bọc cả thành phố nầy. Và vòm chân trời thẳng tắp chia ra ranh giới rạch ròi giữa mây và rán hồng.
Còn nhiều hơn nữa ở New Mexico, thành phố Santa Fe là một thành phố xưa nhứt của Hoa Kỳ với di tích của những căn nhà đầu tiên từ năm 1726 cũng như ngôi nhà thờ cổ xưa được xây cất hoàn toàn bằng gỗ và không có cây đinh, móc sắt nào cả! Tất cả vẫn còn sừng sững cùng tuế nguyệt dù sau hàng vài thế kỷ. Đi về hướng Nam gần giáp biên giới tiểu bang Texas, ta sẽ thấy vùng White Sands với hàng trăm ngàn mẫu cát trắng tạo dựng bằng những sinh vật, cây cỏ thoái hóa từ hàng ngàn năm trước. Qua thời gian những lớp đá vôi và gypsum (thạch cao- magnesium) biến thành những đụn cát (dune) mịn màng nhưng không di chuyển như những đụn cát biển ở quê hương, vì cây cỏ, nhiều rặng xương rồng nằm rải rác trên các đụn cát mênh mông nầy.
Nếu hồi tưởng lại trong một sát na, ta sẽ chùng lòng khi thăm viếng nơi đây.
Vì sao?
Quê hương mình cũng có những đụn cát vàng chạy dài từ Cam Ranh xuống Phan Thiết. Và những đụn cát trên di chuyển theo từng làn gió và theo mùa. Tôi vẫn yêu quê hương tôi nhiều lắm.
Trên bước đường ngàn dặm, ta sẽ còn thấy nhiều nơi danh lam thắng cảnh, nhưng ở thành phố cổ St Louis tại Missouri, nơi có Đại hội Thánh mẫu hàng năm dung chứa mỗi năm hàng trăm ngàn tín đồ Thiên Chúa giáo hành hương… Tuy nhiên, có một điều làm cho tôi phải mất hai ngày để “cưỡi ngựa xem hoa” gần 7,8 bảo tàng viện. Cũng chính nơi đây, vào năm 1986 tôi đã có dịp qua thăm khi tôi có một booth về nghiên cứu khoa học của trường Y khoa Minnesota dưới sự tài trợ của National Institute of Health, trình bày một ứng dụng về sự kết nối của màng tế bào máu của con người.
Phải nói, từ các bảo tàng viện trên chúng ta sẽ thấy tất cả văn minh của nhân loại từ thời cổ đại, trước BC hàng ngàn năm cho tới thời cận đại. Cũng được biết, thành phồ St Louis là một trong những trung tâm tàng trữ hồ sơ và dữ liệu lớn nhứt của Hoa Kỳ.
Chúng ta từng hãnh diện với màu xanh Huế (blue de Hue) thế kỷ 19 với 4,5 ngàn năm văn hiến, màu xanh nhạt mờ trên những bình sứ thô sơ hay trên các chén bát thâu lượm được từ một chiếc tàu chìm ở gần Hội An cách đây độ khoảng 5 năm. Các món sành sứ nầy đã được triển lãm và bày bán tại Hoa Kỳ. Vậy mà “chúng ta” vẫn hãnh diện, hãnh diện với những màu sắc nhạt nhòe như trẻ con bên Mỹ học nắn tượng hay sinh viên các trường Đại học cộng đồng trong lớp học điêu khắc lấy đất sét làm nguyên liệu.
Nhìn lại hôm nay, tại những bảo tàng viện trên, chúng ta sẽ thấy các bức tranh hay đồ sành sứ, hay điêu khắc với màu sắc đỏ xanh vàng tím… rực rỡ vẫn còn đậm nét được sáng tác hàng 5, 10 thế kỷ trước. Tôi chú ý đi tìm khắp xem có nơi nào có sản phẩm của Việt Nam từ thời cổ đại cho tới ngày nay hay không?
Tiếc thay! Và quá thất vọng vì không tìm được.
Nhưng ở đây chúng ta có thể thấy sản phẩm văn hóa của một vài quốc gia Phi Châu, các quốc gia mà người Việt thường hay xem thường, không có văn minh!. Ngay cả những hình ảnh vải vóc, thảm dệt từ thế kỷ 17, 18 của văn minh Phi Châu cũng hiện diện nơi đây.
Cũng cần nói thêm một điều là từ những năm đầu thế kỷ 19, vì choáng ngợp với văn minh và nghệ thuật Âu Châu, Hy Lạp… người Mỹ đã đổ xô cố tìm học hỏi. Kết quả là, cho đến hôm nay, có thể nói về nghệ thuật, tranh vẽ, điêu khắc và các thể loại khác, có thể nói, nghệ thuật Hoa Kỳ là một tổng hợp của tất cả các nguồn nghệ thuật quốc gia trên thế giới… Quả thật nơi đây thể hiện rõ nét “tương lai hồi tưởng” của người Mỹ.
Ngay cả ở thời đại đồ đá và đồ đồng, cũng không thấy “dáng đứng” Việt Nam trong đó. (Giả sử nếu có trưng bày sản phẩm “thời đại đồ đểu”, chắc chắn tên Việt Nam hiện đại sẽ chiếm trọn vẹn trong bất cứ bảo tàng viện nào trên thế giới).
Trở về lại tôi, nhớ lại vào năm 1983, chỉ vài tháng sau khi đặt chân đến Fresno, CA tôi đã làm một đoạn TV dưới tiêu đề “Looking back” (Quá khứ hồi tưởng). Tôi đã tự viết script cho mình để làm độc thoại trong vòng 5 phút. Phim chiếu cảnh tôi đi qua, đi lại trong một công viên, thỉnh thoảng ngồi trên băng ghế… để nói về bầu nhiệt huyết của tuổi 30 bị thui chột vì nỗi can qua của đất nước. Niềm uất hận đối với Cộng sản Bắc Việt chính vì họ đã “giết” đi sức đóng góp cho quốc gia của một người con Việt.
Trong đoạn phim ngắn, tôi nhìn lại quá khứ nhưng chưa thấy được tương lai vì vừa mới cự ngụ nơi đất mới chỉ một thời gian ngắn, tâm trạng vẫn còn ngổn ngang với cuộc sống cho một gia đình với bốn con còn nhỏ! Cho nên, lời lẽ rất bi quan và tương lai còn quá mịt mù.
Hôm nay, hồi tưởng lại những lời tiêu cực ngày xưa làm cho tôi thêm ngỡ ngàng; vì chính nhờ cái khó khăn của thuở ban đầu mà tôi còn khả năng diễn tả những hồi tưởng của ngày hôm nay.
Trở lại khi xem một bản vẽ trên giấy canvas hình một người đang cố ngoi lên bên bờ vực, sắc mặt hết sức nghiêm trọng lẫn tuyệt vọng, tôi nhớ lại câu chuyện thiền của Suzuki, cũng nói lên đề tài nầy. Một người té xuống vực, cố bám víu từng gốc cây cội rễ, nhưng càng bám càng bị rơi vào hố thẳm. Trong lúc tuyệt vọng và đang nhắm mắt chờ cái chết đến với mình, người ấy chợt nhìn thấy một đóa hoa tỉ muội vừa nở rạng bên cạnh trong lúc chiếc rễ anh đang nắm sắp sửa rời hốc đá. Một nụ cười mãn nguyện cùng lúc thân xác anh ta đi vào vực thẳm. Tư tưởng Âu và Á có điểm khác biệt là như thế đó.
Trở về tôi, một người bi-polar: một “người xã hội” và một “tôi nguyên sơ”. Trong tôi luôn luôn có sự hiện diện của hai bản thể trên và liên tục dằn co suốt 70 năm qua. Con người xã hội năng động, chiến đấu bền bĩ cho cái Thiện, cố gắng đẩy lui cái Ác, cùng chiến đấu cho một VIệt Nam an bình trong đó con người đối xử tử tế với nhau.
Nhưng trong suốt 70 năm qua, con người xã hội đã ngự trị và đè nén con người nguyên sơ của tôi, và bản thể thứ hai nầy chưa bao giờ được sống trọn vẹn mà chỉ sống dưới lớp dù của con người xã hội qua cái ngã, hay tham vọng do môi trường bên ngoài tạo thành. Và chính vì vậy, suốt thời gian qua, cái tôi nguyên sơ bị phai mờ và chìm đắm trong cơn lốc chủ nghĩa cùng với vận nước điêu linh.
Còn tôi nguyên sơ thì sao?
Tôi nguyên sơ vẫn sống trong trạng thái “hibernation”, nghĩa là bao năm qua vẫn triền miên ngủ trong giấc ngủ mùa đông của con gấu Bắc cực. Ngủ, nhưng chủng tử “tôi nguyên sơ” vẫn thức. Gần 3 tháng qua, chu du trên nhiều miền đất nước tạm dung để thấy lại mình. Đây không phải là nostalgic future hay looking back mà thực sự muốn thấy mình ngay lúc nầy, trong hiện tại.
Đôi khi vẫn còn dằng co giữa hai bản thể, nhưng quả thật, tôi nguyên sơ đang ngự trị trong tôi và đang đi cùng tôi trong cuộc hành trình về với chân nguyên.
Tôi đang đi về đâu?
Hiện tại vẫn chưa có câu trả lời rốt ráo, nhưng chắc chắn rằng tôi đã đi và đang đi vào cái “chân không”, đi vào cội nguồn nguyên thủy nhưng khái niệm trên vẫn còn mù mờ chưa định hình rõ ràng…
Bước đi chắc nịt, không còn dò dẫm dù hai bên đường vẫn còn nhiều gay góc và bụi mờ làm vướng bận mắt của tôi nguyên sơ. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi…
Trong tôi nguyên sơ, không còn có câu hỏi tự đặt ra “Que sera, sera” vì tôi đã thấy rõ con đường mình đi. Tôi nguyên sơ đã cùng tôi song hành hướng về cõi chân không!
Mà chân không là gì?
Chân không trong “tôi xã hội” là một cuộc chiến đấu cho lý tưởng trong lành, không mưu cầu chiếm đoạt quyền lực, không nhằm tạo nên một dáng đứng (legacy) nào đó. Chính vì vậy mà tôi xã hội đã sống và làm “cách mạng” đã 70 năm qua, dứt khoát không làm chánh trị.
Còn tôi nguyên sơ còn lại hôm nay là một cuộc chuyển hóa tự thân. Sống cùng một nhịp thở với cái tôi đến từ cát bụi, sống tự nhiên với vạn vật, không cố gắng, không mưu cầu…
Trời nắng nhìn thấy niềm vui rạng rỡ của thiên nhiên, của con người.
Trời mưa vui cùng với sự tươi mát của cây cỏ.
Nhìn cành cây trụi lá của mùa Đông.
Ngắm hoa lá nẩy mầm khoe sắc mùa Xuân.
Tâm cảnh hai thời điểm vẫn là một. Vẫn giữ niềm thư thái trong an nhiên tự tại trong cái nóng khắc nghiệt của mùa hè Houston.
Sự chuyển hóa hay sự thay đổi ngôi của “tôi xã hội” và “tôi nguyên sơ” có làm tôi trăn trở chăng?
Chắc chắn là không. Vì tôi rõ, một khi đã định hình được tôi ở dạng nào của tính bi-polar trong tôi rồi, lúc đó sẽ có một thông lộ mới đã sẵn sàng cho Tôi đi.
Phải chăng, ngày hôm nay, trong giờ phút hiện tại nầy, tính bi-polar (xin tạm dịch là “nhị dạng” hay “nhị cực”) đã biến mất, nhường chỗ lại trong tôi chỉ còn “độc dạng” (mono-polar) để tiếp tục đi về với nguyên thủy của cuộc sống, cát bụi trở sẽ trở về với cát bụi, hay về lại thể chân không của vạn vật.
Oneness. Tất cả là Một. Một là Tất cả!
Phải chăng sẽ chẳng còn tương lai hồi tưởng, cũng như chẳng còn quá khứ hồi tưởng trong tôi hiện tại?
Phải chăng gia đình, xã hội, quê cha, đất tổ đã xa rời trong Tôi?
Phải chăng Tôi đã đạt và thoát khỏi vòng lẩn quẩn của cõi Ta Bà nầy?
Phải chăng tôi là Tôi, mà cũng không phải là Tôi nữa?
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
Viết sau 3 tháng hành trình về Chân Tâm
St Louis, MO – 3/2013
The Future in Retrospection
The title of this article is based on a book by a Japanese writer, Tanaka, in its English edition. I came across the book in the School of Architecture at Washington University in St. Louis, Missouri, during a visit to the city. The book was entitled Nostalgic Future. Although I only read through the preface, I could already see the author's vision: deliberately looking back into the past in order to envision a future applicable to architecture.
Therefore, the Vietnamese title could also be understood as “Remembering the past to prepare for the future,” or “Looking at the past, seeing the future.” This idea clearly applies to every nation, allowing us to recognize the civilization and culture of each people through the length and depth of their history.
Over the past nearly three months, I have traveled through many states—California, Nevada, Arizona, New Mexico, Texas, Arkansas, and Missouri—a journey of more than 7,000 miles. Along the way, I have reflected on people, nations, and, above all, on myself. Each place has left a different impression of time and of the civilizations that once existed there, as well as the remarkable landscapes of a country as diverse as the United States.
At the Getty Museum in Santa Monica, California, I saw the strength of America through its service to the community, or through the act of “giving back” to the nation what people have received from the country in which they were born or which gave them refuge. It is charity and giving back. Many billionaires have contributed and left behind priceless treasures through a chain of museums devoted to humanity, civilization, and history. The transportation system taking visitors to the hilltop, the parking facilities, admission to the museums, and other services are all provided free of charge.
Only by traveling from place to place does one truly see how generously nature has endowed this adopted country. Yet although it is an adopted land, many of us—this is merely my subjective observation about Vietnamese people—have lived here as if we were… unintentional temporary guests.
In Albuquerque, New Mexico, we can witness the extraordinary beauty of the sunset reflected across the deep blue sky and spreading over the mesas—the flat-topped mountain formations surrounding the city. A vast arc of pink light seems to embrace the entire city, while the straight horizon creates a sharp boundary between the clouds and the glowing sunset.
There is much more in New Mexico. Santa Fe is one of the oldest cities in the United States, with remains of its earliest buildings dating from 1726, as well as an ancient church constructed entirely of wood without a single nail or iron hook. It still stands after several centuries.
Traveling south toward the Texas border, one reaches White Sands, with hundreds of thousands of acres of white sand formed from organisms and vegetation that deteriorated over thousands of years. Over time, layers of limestone and gypsum transformed into smooth dunes. Unlike the shifting coastal dunes of our homeland, however, these dunes remain relatively stable because of vegetation and scattered cactus groves spread across the immense landscape.
If, for just a moment, we allow ourselves to remember, our hearts may become heavy when visiting such a place.
Why?
Our homeland also has golden sand dunes stretching from Cam Ranh to Phan Thiết. Those dunes move with every wind and with the changing seasons. I still love my homeland very much.
Along a journey of thousands of miles, one encounters many beautiful and famous places. Yet in the old city of St. Louis, Missouri, home to the annual Marian pilgrimage that brings hundreds of thousands of Catholic faithful, something else captured my attention. I spent two days “riding a horse and viewing flowers”—a Vietnamese expression for seeing many things in a short time—visiting nearly seven or eight museums.
It was also here, in 1986, that I had the opportunity to visit when I presented a scientific research booth from the University of Minnesota Medical School, under the sponsorship of the National Institutes of Health, demonstrating an application concerning the connection of human blood-cell membranes.
From these museums, one can see the entire history of human civilization, from ancient times thousands of years before Christ to the modern era. I also learned that St. Louis is one of the major centers in the United States for the storage of records and large collections of data.
We Vietnamese have often taken pride in the blue of Huế porcelain, dating from the nineteenth century, and in a history we sometimes describe as extending back four or five thousand years. We admire the pale blue traces on crude porcelain vessels or on bowls recovered from a sunken ship near Hội An several years ago. These ceramic objects were exhibited and sold in the United States.
Yet when I look at the museums here today, I see paintings, ceramics, and sculptures whose red, blue, yellow, and purple colors remain vivid after five or ten centuries. I deliberately searched to see whether there were any Vietnamese cultural products represented, from ancient times to the present.
Sadly, I found none.
What is striking is that these museums contain cultural products from several African nations—countries that Vietnamese people sometimes look down upon as lacking civilization. Even textiles and woven carpets from seventeenth- and eighteenth-century African civilizations are represented here.
It is also worth noting that beginning in the early nineteenth century, Americans, overwhelmed by European and Greek civilization and art, eagerly sought to study and learn from them. The result is that today, in painting, sculpture, and the other arts, American art can be described as a synthesis of artistic traditions from nations throughout the world. Indeed, this is a clear expression of the American “nostalgic future.”
Even when looking at the Stone Age and Bronze Age, I do not see a Vietnamese “stance” or presence there. (If there were ever an exhibition of the “Age of Fake,” however, the name of modern Vietnam would surely occupy an entire museum anywhere in the world.)
Returning to myself, I remember that in 1983, only a few months after arriving in Fresno, California, I produced a short television segment entitled “Looking Back.” I wrote the script myself and delivered it as a five-minute monologue. The film showed me walking back and forth through a park, occasionally sitting on a bench, speaking about the youthful enthusiasm of a thirty-year-old man crushed by the tragedy of his homeland. My resentment toward the Communist regime in North Vietnam came from the feeling that it had “killed” the ability of one Vietnamese son to contribute to his country.
In that short film, I looked back at the past but could not yet see the future. I had only recently arrived in a new land, and my mind was still overwhelmed by the struggle of building a life for a family with four young children. Therefore, the words were deeply pessimistic and the future remained completely obscure.
Today, remembering those negative words from the past leaves me astonished, because it was precisely the hardship of those early years that gave me the ability to express the reflections I am writing today.
When I later looked at a canvas painting of a person desperately trying to climb up from the edge of a precipice, with an expression of profound seriousness and despair, I remembered a Zen story associated with Suzuki. A man falls into a ravine and desperately clings to roots and branches, but the more he clings, the deeper he falls. In despair, closing his eyes and waiting for death, he suddenly notices a small flower blooming brilliantly beside him, just as the root he is holding is about to break loose from the rock. A satisfied smile appears on his face at the very moment his body falls into the abyss. This, perhaps, illustrates one of the differences between Eastern and Western thought.
Returning to myself, I am a bi-polar person: a “social self” and a “primordial self.” Within me, these two identities have always been present, struggling continuously for seventy years. The social person is active, fighting persistently for Good, attempting to push back Evil, and fighting for a peaceful Vietnam in which human beings treat one another with kindness.
Yet throughout these seventy years, the social self has dominated and suppressed my primordial self. The second identity has never been allowed to live completely, existing only beneath the umbrella of the social self, shaped by ego and ambitions created by the external environment. Because of this, my primordial self gradually faded and became submerged in the whirlwind of ideology and the tragic fate of my homeland.
But what about my primordial self?
My primordial self has remained in a state of “hibernation,” like a polar bear sleeping through the winter. It sleeps, but the seed of the primordial self remains awake. During these past nearly three months, traveling through many regions of this adopted country, I have begun to see myself again. This is not Nostalgic Future or Looking Back. I truly want to see myself exactly as I am now, in the present.
At times there is still a struggle between the two identities. But indeed, my primordial self is now taking its place within me and walking with me on the journey back toward my true nature.
Where am I going?
At present, there is still no final answer. But I know that I have entered, and am continuing to enter, the “emptiness”—returning toward the primordial source, although this concept remains vague and has not yet fully taken shape.
My steps are now firm. I no longer stumble blindly, even though there are still many obstacles and clouds of dust along the road that obscure the vision of my primordial self. But I continue walking…
Within my primordial self, there is no longer the question, “Que sera, sera,” because I can now see the road ahead. My primordial self walks beside me toward the realm of emptiness.
But what is emptiness?
For the “social self,” emptiness is a struggle for a pure ideal, without seeking to seize power and without attempting to create some kind of legacy. That is why my social self has lived and “revolutionized” for seventy years while firmly refusing to enter politics.
As for what remains of my primordial self today, it is a transformation of the self. Living in the same breath as the self that comes from dust, living naturally with all things, without forcing, without seeking…
When the sun shines, I see the radiant joy of nature and of human beings.
When the rain falls, I rejoice in the freshness of plants and trees.
I look at the bare branches of winter.
I watch flowers and leaves sprout and display their colors in spring.
The inner landscape remains the same at both moments. I retain a sense of peace and natural tranquility even under the harsh summer heat of Houston.
Does this transformation, or this change of position between the “social self” and the “primordial self,” trouble me?
Certainly not. I understand that once I have recognized which form of this bi-polar nature truly defines me, a new passage will already be open and ready for Me to walk through.
Perhaps today, in this very moment, the bi-polar nature within me—what I tentatively call “two forms” or “two poles”—has disappeared, leaving only a “mono-polar” self to continue toward the primordial nature of life: dust returning to dust, or returning to the emptiness underlying all things.
Oneness. All is One. One is All!
Perhaps there is no longer a nostalgic future, nor even a nostalgic past, within me in the present.
Perhaps family, society, ancestral homeland, and the land of my fathers have all moved away from Me.
Perhaps I have reached beyond the endless cycle of this Samsara.
Perhaps I am Me, and yet I am no longer Me.
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
Written after three months on a journey toward the True Mind
St. Louis, Missouri – March 2013